Chương trình trọng tâm

vv1vv2vv3vv4vv5

SVVN - Rạng Đông là minh chứng sống động cho trí tuệ Việt Nam và con đường khác biệt của các doanh nghiệp Việt Nam. Để tìm ra…
The Loadstar (Anh) đưa tin, theo một cuộc khảo sát mới, Việt Nam, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ là những quốc gia đang dẫn đầu trong việc…

Tại sao có một số người trở thành triệu phú nhanh đến vậy?

Bất kể công việc của bạn là gì, thì vẫn có người không giỏi bằng bạn nhưng họ đang kiếm nhiều tiền hơn bạn. Bí mật nằm ở một thứ mà ít người nghĩ tới - môi trường. Việc bạn kinh doanh với ai cũng quyết định được số tiền mà bạn sẽ kiếm được. Một số người trở thành triệu phú quá nhanh là bởi vì, họ ở trong một môi trường mà hàng triệu người ở đó kiếm tiền rất dễ dàng. Đó là một nguyên do, và còn nhiều hơn vậy.

Điều này tạo nên sự khác biệt rất lớn
Một nhà thông thái đã từng nói rằng: "Nếu bạn tìm được một người kinh doanh rất thành công trong những năm 20 hoặc đầu 30, thì hãy tìm hiểu xem bạn bè của họ là ai". Những người thành công này là những người thường "đi ăn với những người lớn tuổi hơn". Họ có thể có những người bạn đang cùng đồng hành, nhưng họ thường thích lắng nghe câu chuyện thành công của những người đi trước.

Một lý do khác khiến mọi người trở thành triệu phú nhanh chóng đó là vì họ nhận được sự giúp đỡ từ những triệu phú khác. Nếu bạn nằm trong nhóm những người kiếm được hàng triệu USD, bạn cũng sẽ dễ dàng làm được điều tương tự.

Đầu tiên, họ sẽ kiếm một triệu USD nho nhỏ. Sau đó, họ sẽ thu hút bạn trở thành nguồn lực có thể tạo ra lợi nhuận cho họ.

Bạn cũng có thể cùng họ tìm ra những thứ mới mẻ hơn, đặc biệt là những thứ họ đã mất rất nhiều năm tìm kiếm. Các mối quan hệ mà họ xây dựng suốt những năm đó sẽ mang lại lợi ích to lớn. Những người khác sẽ rất khó khăn khi tự mình tìm tòi mọi thứ.

Khi bất cứ ai nhận sự giúp đỡ từ một triệu phú nào đó, họ sẽ vươn lên dẫn đầu nhanh hơn.

Một vài con số sẽ hoạt động tốt hơn những con số khác.

Có hai loại mô hình lợi nhuận trong kinh doanh. Mô hình đầu tiên là doanh nghiệp phải bán được nhiều sản phẩm (hoặc chào hàng) vì chúng tạo ra lợi nhuận cận biên trên mỗi lần bán.

Mô hình thứ hai là quy mô giao dịch sẽ rất lớn, tới mức có thể kiếm rất nhiều tiền chỉ từ hai hoặc ba lần bán hàng. Đây là mô hình có nhiều khả năng đưa bất cứ ai trở thành triệu phú hơn mô hình còn lại.

Tuy nhiên, cần phải có một số kỹ năng nhất định để thành thạo được mô hình thứ hai và sử dụng nó tinh tế hơn mô hình thứ nhất. Kiếm được 1 triệu USD là một trò chơi ẩn số. Bạn phải tính toán doanh số mà bạn có thể kiếm để đạt được mục tiêu.

Ví dụ: Nếu bạn lời 1 USD trên một lần bán, có nghĩa là bạn phải thực hiện 1 triệu lần bán hàng để kiếm được 1 triệu USD. Nếu đúng như vậy, thì sản phẩm hoặc dịch vụ tốt hơn sau đó sẽ khiến mọi người mua dễ dàng và thường xuyên hơn.

Một mẹo hay từ Ray Dalio
Ray Dalio là một tỷ phú đầu tư và ông đã nói một số điều mà tất cả doanh nhân đều phải suy ngẫm. Ông nói:

"Tôi chỉ giỏi một thứ mà nếu bạn cũng giỏi giống vậy, bạn sẽ kiếm được rất nhiều tiền".

Những người trở thành triệu phú nhanh chóng hiếm khi thực hiện việc gì đó theo một cách đặc biệt hoặc mới lạ. Những người chỉ có duy nhất một hướng đi để thành công thường sẽ đi rất chậm. Và đường tắt sẽ là con đường được tạo ra ra để biến mọi người thành triệu phú nhanh hơn.

Rất nhiều người thường mắc sai lầm khi chỉ giỏi một việc gì đó nhưng không mang lại lợi nhuận lâu dài. Nếu bạn nghe được một người nào đó nói về việc họ gặp khó khăn trong kinh doanh, thì bạn có nghĩ mình sẽ rất thành công với việc kinh doanh của mình không?

Rất khó để trở thành một người tiên phong và thành công nhanh chóng vì họ là những người hay mở đường cho người khác đi. Nhưng các triệu phú bước đi trên con đường được vẽ sẵn đó sẽ phải mất nhiều thời gian để làm lại bánh xe để đi trên đó.

Vì vậy, những người trở thành triệu phú nhanh chóng bằng việc giỏi một thứ gì đó là nhiều vô số. Không phải một hay hai triệu phú, mà có hàng trăm, hàng nghìn triệu phú khác. Nên họ chắc chắn không phải là người đầu tiên.

Kế hoạch chi tiết để trở thành tỷ phú
Trở thành một tỷ phú cũng giống như cách trở thành triệu phú. Có một con đường gần như đảm bảo việc bạn sẽ thành công nếu bạn đi được trên đó. Và dĩ nhiên sẽ có áp lực.

Giai đoạn đầu tiên là bắt đầu bằng một công ty khởi nghiệp. Bạn phải tạo ra được sản phẩm khả thi nhất dựa vào năng lực của bản thân.

Giai đoạn tiếp theo đó là tìm kiếm nguồn tài trợ. Sự thành công trong giai đoạn này còn phải phụ thuộc vào một số thứ. Đây thường là giai đoạn khó khăn nhất đối với các doanh nhân, nhưng với những người thường "ăn chung với những người lớn hơn" lại thấy khá dễ dàng.

Sau đó là giai đoạn bắt đầu quảng bá. Nếu công ty khởi nghiệp không quảng bá thương hiệu của mình sau lần gọi vốn đầu tiên, rất có khả năng sẽ bị cạnh tranh cao. Không có gì là không thể, chỉ là một vài thứ rất khó nói trước.

Sau khi quảng bá thương hiệu, bước tiếp theo sẽ dễ dàng hơn. Đó là gia tăng số tiền hiện có. Giờ đây, các công ty khởi nghiệp không cần phải nói thêm về họ với các nhà đầu tư nữa. Các nhà đầu tư sẽ là người chạy theo rót vốn cho các công ty khởi nghiệp

Cùng với nhiều nguồn vốn được đảm bảo, việc kinh doanh có thể được mở rộng quy mô. Điều này có nghĩa là họ có thể tạo ra những quy trình hoặc hệ thống để việc kinh doanh được vận hành mà không cần đến sự hiện diện của một người hoặc một vật cụ thể. Việc mở rộng quy mô bắt đầu thành công sẽ giúp công ty vận hành tự động hóa hơn. Các công việc kinh doanh cũng sẽ có một cộng đồng lớn mạnh.

Sau khi mở rộng, doanh nghiệp sẽ đến giai đoạn phát triển. Để phát triển, doanh nghiệp cần nhiều vốn đầu tư hơn nữa. Đây là giai đoạn gọi vốn dễ dàng nhất, bởi vì các nhà đầu tư đã có thể nhìn thấy được những thành công tất yếu trong tương lai sau khi hợp tác.

Sau vòng cấp vốn, doanh nghiệp phải đạt được lợi nhuận. Không phải là lợi nhuận nhỏ mà là những khoản lợi nhuận lớn hơn. Điều này dẫn đến sự xuất hiện của tỷ phú.

Bước cuối cùng để hình thành tỷ phú đó là IPO. Một số công ty thậm chí còn không chờ tới lúc có lãi đã thực hiện bước này. IPO chủ yếu dựa vào thời gian và thời gian phải thật chính xác. Cứ thế, những người đứng đầu doanh nghiệp sẽ trở thành tỷ phú nếu IPO thành công.

Nghe có vẻ đơn giản, nhưng trên thực tế đây là một thách thức nghiêm trọng. Tuy nhiên, nó chỉ là một trò chơi đối với những người giàu đã thành thạo về nó.

Theo Mai Phương, cafebiz.vn. Theo Medium

Ngày 28/04/2021 vừa qua, Viện Kinh tế và Thương mại quốc tế đã đồng hành cùng Trung tâm Sáng tạo và Ươm tạo FTU (FIIS) và Phòng Quản…
Xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa đang mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội phát triển cũng như thách thức. Thua kém doanh nghiệp nước ngoài…

Các nhà tuyển dụng hiện nay hầu như bỏ qua sự đáng tin cậy của một người khi tuyển dụng nhân viên.

Các doanh nghiệp luôn muốn tuyển dụng được những ứng viên hoàn hảo, nhưng có nhiều nhà lãnh đạo lại không ưu tiên những tiêu chí phù hợp. Họ tập trung quá nhiều vào các kỹ năng cần thiết, số năm kinh nghiệm, công ty nổi bật mà ứng viên từng làm việc hay thành tích mà ứng viên đạt được.

Một đặc điểm mà hầu hết người tuyển dụng thường bỏ qua là sự đáng tin cậy. Họ hiếm khi dừng lại để tự hỏi: “Tôi có thể tin tưởng người này không?”

Greg McKeown, tác giả của cuốn sách “Effortless: Make It Easier to Do What Matters Most”, từng dành nhiều năm để nghiên cứu và phỏng vấn các CEO và nhà quản lý thành công nhất. Ông phát hiện ra rằng đội ngũ có ít sự tin tưởng lẫn nhau là một trong những yếu tố lớn nhất khiến công việc trở nên khó khăn và căng thẳng hơn.

Warren Buffett, một trong những nhà đầu tư thành công nhất thế giới hiện nay, từng nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng tin trong một buổi nói chuyện với các sinh viên bậc thạc sĩ tại Đại học Florida vào năm 1998. Khi đó, vị tỷ phú giàu thứ 6 thế giới chia sẻ 3 tiêu chí ông sử dụng để xác định sẽ hợp tác với ai, đó là tính chính trực, trí thông minh và nghị lực”.

Nếu không có tính chính trực, hai đặc điểm còn lại có thể phản tác dụng, ông khẳng định.

 

Tuyển dụng được một người đáng tin cậy có nghĩa là bạn phải đảm bảo được 3 yếu tố sau đây, theo Greg.

 

Đó là một người trung thực và đáng tôn trọng, như vậy bạn có thể tin tưởng họ sẽ giữ một tiêu chuẩn cao ngay cả khi không có ai nhìn vào.

 

Đó là một người tận tâm, bởi bạn biết họ có khả năng phán đoán tốt, nói là làm và làm tốt điều đã nói.

 

Đó là một người bạn không cần giám sát hoặc quản lý quá kỹ lưỡng: Họ hiểu mục tiêu của nhóm và quan tâm tới chất lượng công việc nhiều như bạn.

 

Tỷ phú Buffett từng đưa ra một ví dụ điển hình về việc tại sao sự đáng tin cậy lại là đặc điểm quan trọng nhất mà người tuyển dụng cần tìm ở ứng viên. Trong thư gửi cổ đông năm 2003, Buffett kể lại việc ông chốt thỏa thuận với McLane Distribution, một doanh nghiệp chuyên cung cấp giải pháp về chuỗi cung ứng do Walmart sở hữu.

 

Quá trình xác nhận những thông tin mà ông Buffett biết được về doanh nghiệp này đáng lẽ tốn rất nhiều công sức. Công việc này đòi hỏi hàng chục luật sư phải ngồi đọc từng hợp đồng, tài liệu cho thuê thiết bị, mua bất động sản và các thỏa thuận liên kết khác. Thậm chí, ông sẽ cần cả một “đội quân” kế toán để kiểm tra chi tiết mọi hạng mục trong báo cáo tài chính hàng tháng, quý và thường niên của công ty. Và nhiều việc khác nữa. Để hoàn thành tất cả công việc này, Buffett có lẽ phải tốn tới hàng triệu USD và làm việc trong nhiều tháng liên tiếp.

 

Tuy nhiên, CEO của Berkshire Hathaway đã chốt hợp đồng với McLane chỉ trong một cuộc họp kéo dài 2 tiếng và một cái bắt tay. 29 ngày sau đó, thương vụ mua đã hoàn tất. “Chúng tôi không hề thẩm định công ty”, vị tỷ phú 90 tuổi viết. Dựa trên kinh nghiệm của mình, Buffett kết luận rằng ông biết mọi thứ sẽ diễn ra đúng như những gì Walmart nói, và sự thật đúng là như vậy.

 

Bạn có thể thuê một người có ít hoặc không có kinh nghiệm trong lĩnh vực của bạn nhưng chắc chắn họ phải là người chính trực, thông minh và có nghị lực.

 

Nói cách khác, nếu nhân viên của bạn là người mới trong nghề nhưng có đạo đức hoàn hảo và khả năng giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, có nghĩa là bạn đang sở hữu một nhân viên có hiệu suất làm việc cao, một người có thể khiến công việc của bạn trở nên dễ dàng hơn.

 

Hãy tưởng tượng khi bạn không tin tưởng ai cả, bạn sẽ luôn cảm thấy cần phải kiểm tra nhân viên của mình, nhắc nhở họ về hạn chót của công việc, “lởn vởn” xung quanh họ để đánh giá hiệu suất làm việc. Hoặc là bạn sẽ không giao cho ai làm bất cứ việc gì và tự mình làm. Khi đó, công việc có thể bị đình trệ hoàn toàn.

 

Tuy nhiên, nếu có sự tin tưởng, việc quản lý và duy trì hoạt động sẽ trở nên dễ dàng hơn. Mọi người có thể nói chuyện về những vấn đề họ gặp phải một cách cởi mở và chân thành. Các thành viên trong nhóm có thể chia sẻ thông tin có giá trị thay vì giữ khư khư cho bản thân. Sẽ không có ai ngại đặt câu hỏi khi họ không hiểu điều gì đó. Tốc độ và chất lượng của mỗi quyết định sẽ tăng lên. Các cuộc đấu đó nội bộ cũng sẽ giảm dần.

 

Quan trọng nhất có lẽ là hiệu suất làm việc của mọi người sẽ tăng theo cấp số nhân, vì mỗi người có khả năng tập trung tất cả năng lượng và sự tận tâm của mình để hoàn thành công việc, thay vì chỉ để hòa hợp ngoài miệng với nhau, theo Greg.

 

Greg McKeown tốt nghiệp Đại học Stanford. Ông chuyên nghiên cứu về lãnh đạo doanh nghiệp và các công cụ để thành công. Greg hiện là người dẫn chương trình của chương trình nổi tiếng “What’s Essential” và từng làm việc với các khách hàng lớn như Apple, Google, Facebook. Công trình nghiên cứu của ông từng xuất hiện trên New York Times, Harvard Business Review và NPR.

 

Theo Thanh Long, cafebiz.vn

 

Rạng Đông từ khi thành lập đến nay đã trải qua hơn 60 năm xây dựng và thăng trầm, gắn với nhiều câu chuyện, nhiều thời điểm lịch…
Bài học làm giàu từ trái táo của 3 chàng trai phản ánh một thực tế: Sự cách biệt giàu nghèo nằm ở tư duy. Các quyết định…

Phương pháp lập ngân sách dành cho những người không thích theo dõi chi tiêu

 

Nếu bạn áp dụng quy tắc 80/20 để lập ngân sách, có nghĩa là bạn sẽ bỏ 20% tiền lương thực tế vào tiết kiệm và 80% còn lại vào chi tiêu hàng ngày. Người ta thường gọi đây là ngân sách dự phòng. Loại ngân sách này giúp bạn giải quyết các vấn đề liên quan đến tiền khi gặp khó khăn trong tương lai.

 

Dưới đây là đặc điểm của quy tắc 80/20 và những điểm khác so với quy tắc 50/30/20.

 

Quy tắc 80/20 là gì?

 

Quy tắc 80/20 là một quy tắc đơn giản giúp bạn lập ngân sách một cách hiệu quả. Quy tắc này sẽ đánh giá thu nhập thực tế của bạn sau khi khấu trừ tất cả các loại chi phí mà bạn phải trả như thuế, tiền bảo hiểm,... Theo quy tắc này, bạn sẽ phải bỏ 20% thu nhập thực tế vào khoản tiết kiệm và 80% còn lại dành cho chi tiêu hàng ngày.

 

Nếu muốn đạt hiệu quả tốt nhất thì bạn nên gửi 20% thu nhập vào khoản tiết kiệm ngay sau khi bạn nhận lương. Điều này sẽ đảm bảo việc duy trì ngân sách dự phòng của bạn.

 

Quy tắc 80/20 bắt nguồn từ đâu?

 

Quy tắc 80/20 được phát triển từ quy tắc 50/30/20. Theo quy tắc 50/30/20 thì 50% thu nhập thực tế dành cho nhu cầu thiết yếu như nhà ở, điện, nước, xăng xe,... 30% tiếp theo dành cho các nhu cầu thư giãn và giải trí như ăn uống, xem phim, chơi thể thao,... Cuối cùng, 20% còn lại dành cho tiết kiệm hoặc trả nợ.

 

Cách áp dụng quy tắc 80/20

 

Quy tắc 80/20 giúp đơn giản hóa quy tắc 50/30/20. Ví dụ: Nếu thu nhập thực tế của bạn là 800 USD, trong đó 160 USD sẽ gửi vào tiền tiết kiệm, và 640 USD còn lại sẽ dành cho chi tiêu hàng ngày bao gồm cả nhu cầu thiết yếu và nhu cầu cá nhân.

 

Quy tắc 80/20 sẽ giúp bạn ưu tiên việc duy trì ngân sách dự phòng. Để chắc chắn hơn, bạn nên lập kế hoạch rút tiền một hoặc hai ngày sau mỗi lần nhận lương và gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm. Thêm vào đó, bạn có thể thiết lập một giao dịch rút tiền tự động ở tài khoản của bạn. Bằng cách này, số tiền bạn dự định tiết kiệm sẽ tự động được giữ lại.

 

Tuy nhiên, bạn không nhất thiết phải sử dụng các tài khoản tiết kiệm truyền thống. Thay vào đó bạn có thể sử dụng tài khoản trung gian hoặc tài khoản hưu trí.

 

Trên thực tế, các chuyên gia thường khuyên mọi người, sau khi số tiền trong ngân sách dự phòng đạt yêu cầu, chúng ta nên dành từ 10%- 20% thu nhập cho việc nghỉ hưu. Và kế hoạch này sẽ phụ thuộc vào độ tuổi mà bạn bắt đầu tiết kiệm. Ví dụ, Fidelity khuyên mọi người nên bắt đầu tiết kiệm ở tuổi 25 và dành 15% tiền lương cho tài khoản hưu trí. Còn nếu đợi đến 30 tuổi, bạn sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn thế.

P33

Tại sao quy tắc 80/20 được sử dụng rộng rãi?

Quy tắc 80/20 thường dễ dùng hơn các quy tắc khác vì dễ tuân thủ và duy trì. Thậm chí quy tắc này còn phù hợp cho những người mới tập tành lập ngân sách. Ngoài ra, quy tắc này có thể áp dụng một cách linh hoạt, vì vậy bạn có thể sử dụng quy tắc này với bất kì mô hình chi tiêu nào.

Các công cụ lập ngân sách như Quicken và Mint có thể giúp bạn theo dõi chi tiêu. Nếu bạn thấy quy tắc 80/20 không phù hợp với bạn cho lắm thì bạn nên thử một trong những công cụ này để hiểu rõ hơn về thói quen chi tiêu của mình.

So sánh quy tắc 80/20 và 50/30/20

Mặc dù quy tắc 50/30/20 rất hữu ích, nhưng bạn sẽ khó phân biệt giữa nhu cầu thiết yếu và nhu cầu cá nhân. Ví dụ với nhu cầu mua quần áo. Thường thì bạn sẽ mua 2 loại quần áo khác nhau một là dành cho công việc, hai là để mặc hàng ngày. Tuy nhiên, nhiều khi bạn vẫn muốn mua những món đồ hợp thời trang mà bạn sẽ chỉ mặc một vài lần. Vậy đây được gọi là nhu cầu cá nhân hay nhu cầu thiết yếu? Thực tế, điều này phụ thuộc vào quan điểm của mỗi người và nó không có một quy tắc chung nào cả.

Việc phân loại nhu cầu sẽ mang lại khá nhiều phiền toái cho những người áp dụng quy tắc 50/30/20. Chính vì thế không có nhiều người chọn áp dụng quy tắc này để theo dõi chi tiêu.

Về cơ bản, quy tắc 80/20 là một phiên bản khác của quy tắc 50/30/20 nhưng quy tắc này lại được đơn giản hóa đi. Bạn sẽ không cần theo dõi chi tiêu của mình quá chặt chẽ và cũng không cần phân biệt nhu cầu thiết yếu và nhu cầu cá nhân. Bạn chỉ cần dành 20% thu nhập cho tiết kiệm và chi tiêu phần 80% còn lại. Tuy nhiên, một số người vẫn cảm thấy quy tắc 80/20 có quá nhiều thiếu sót. Vậy nếu bạn thích giám sát chi tiêu theo các cách phức tạp hơn, quy tắc 50/30/20 có thể phù hợp với bạn.

Những điều cần lưu ý

Đối với những người lần đầu lập kế hoạch theo dõi chi tiêu thì áp dụng quy tắc 80/20 là phù hợp nhất. Vì 20% là mức thấp nhất cho một khoản tiết kiệm. Nếu bạn cảm thấy mình đã áp dụng tốt quy tắc 80/20 thì bạn có thể nâng cấp quy tắc này lên 70/30 sau đó là 60/40.

Ngoài ra, khi số tiền tiết kiệm của bạn tăng lên, thì bạn có thể sử dụng số tiền đó cho nhiều việc khác chứ không nhất thiết dành cho việc nghỉ hưu sau này. Bạn có thể dùng số tiền đó để mua bất động sản, kinh doanh nhỏ, thử đầu tư mạo hiểm hoặc đi du lịch.

Hãy nhớ rằng quy tắc 80/20 là quy tắc chung. Và kết quả cuối cùng phụ thuộc vào cách bạn sử dụng nó. Vì thế bạn nên xem xét và điều chỉnh nếu cần thiết.

Mộc Dương

Theo Tạp chí Doanh nghiệp và Tiếp thị

 

Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm cá nhân của Mitra Kalita - Phó chủ tịch cấp cao phụ trách các mục Tin tức, Quan điểm và Tin học tại CNN Digital.

IBM mới đây đã chọn Arvind Krishna làm CEO kế tiếp; không lâu sau đó, WeWork cũng bổ nhiệm Sandeep Mathrani vào vị trí giám đốc điều hành. Theo giới truyền thông, ngày càng nhiều CEO gốc Ấn góp mặt trong các tập đoàn lớn trên thế giới. Ông lớn công nghệ Google cũng không nằm ngoài 'hiện tượng' này.

Dưới đây là 9 yếu tố mà tôi cho rằng chúng ta đều có thể học được từ những CEO người Ấn Độ:

1. Chấp nhận biến cố

Doanh nghiệp đều phải phải đối mặt với biến cố tại thời điểm nào đó. Hãy nhìn vào Ấn Độ hiện tại. Người dân nơi đây đối mặt biến cố trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả việc liệu họ có nước đánh răng vào mỗi sáng. Nhưng họ vẫn kiên trì, chấp nhận bất cứ điều gì vượt ngoài tầm kiểm soát. Điều này giúp người Ấn có khả năng thích nghi và kiên nhẫn với quá trình tồn tại của công ty.

2. Quan sát mọi lúc mọi nơi

Khả năng dự đoán yếu tố tạo nên thị trường là kỹ năng thiết yếu của người lãnh đạo. Người Ấn Độ luôn quan sát, nắm bắt thông tin và tạo kế hoạch B trong vô thức (đó là khi chúng tôi không có nước để đánh răng.)

Nhận định tuy không có gì mới mẻ nhưng lại chỉ ra mấu chốt của vấn đề: Chiến lược tốt nhất để doanh nghiệp tồn tại là khi họ biết cách kết hợp dữ liệu với điều kiện thị trường.

3. Tất cả quy về tỷ lệ và số liệu

Hãy nhìn nhận vấn đề theo cách này: "Khi bạn lớn lên ở đất nước 1 tỷ dân, mọi thứ đều quy về tỷ lệ; từ việc trúng tuyển mẫu giáo đến đại học; thứ hạng của bạn trong lớp; của lớp bạn so với lớp khác; đợt thi tuyển công chức nhà nước; 'trúng số' visa để ra nước ngoài." Tôi luôn ngưỡng mộ anh em họ khi còn bé vì họ luôn xuất sắc mọi trong thứ để tạo ra cơ hội cạnh tranh tốt nhất của chính mình.

Với 'trí thông minh dữ liệu', một người đã có thể giành được vị trí quan trọng trong tầng lớp lãnh đạo mà chưa cần đề cập đến kỹ năng cần có ở CEO hiện đại.

4. Giáo dục, đặc biệt là STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học)

Trung tâm nghiên cứu PEW cho biết dân nhập cư Ấn Độ là một trong những người có trình độ học vấn cao nhất ở Mỹ; 77,5% có bằng cử nhân hoặc cao hơn vào năm 2016 - tỷ lệ cao nhất của bất kỳ quốc gia nào tại đây - so với 31,6% người Mỹ bản địa.

5. Văn hóa làm việc gia đình và 'bố mẹ trực thăng'

'Bố mẹ trực thăng' dùng để ám chỉ những bậc phụ huynh luôn quan tâm, can thiệp quá mức đến đời sống con cái.

Chẳng hạn các công ty Ấn Độ có văn hoá hoà nhập gia đình và công việc, họ chào đón đồng nghiệp đến dự đám cưới em gái của mình, làm mờ ranh giới giữa gia đình và công việc trước khi điều này trở thành xu hướng tại các nước phương Tây.

6. Đa dạng

Sự đa dạng trong lực lượng lao động và lãnh đạo doanh nghiệp đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Khảo sát của Deloitte (cũng được điều hành bởi người Ấn) cho thấy 69% nhân viên tin rằng môi trường làm việc sẽ thú vị hơn dưới ban lãnh đạo đa dạng so với 43% có ý kiến ngược lại.

7. Tính 'nguyên bản'

Chúng ta đang ở trong thời đại cần tính xác thực cao, do sự xuất hiện của mạng xã hội như Twitter cũng như mọi người đang quan tâm vào giá trị, bản chất của một người lãnh đạo hơn là một cá tính thu hút.

Nooyi nhớ lại dung hoà nguồn gốc bản xứ khi trở thành lãnh đạo trên đất Mỹ. Bà kể lại việc đến Mỹ năm 1978 cũng với nỗi nhớ bộ môn cricket tại quê nhà và thay thế vào chỗ trống đó là bóng chày, cụ thể hơn là đội Yankee. "Tôi phát hiện ra ngôn ngữ kinh doanh cũng là bộ môn thể thao", bà chia sẻ trong buổi phỏng vấn, "mọi người trong kinh doanh phân tích cuộc chơi và nếu chúng tôi không phải một phần của quá trình, chúng tôi cảm thấy bị bỏ rơi. Vì vậy, tôi kết hợp tình yêu dành môn cricket cho đội Yankees khi đặt chân đến đây."

8. Thời gian là quý giá và vô hạn

Khi chuyển đến Ấn Độ vào năm 2006, tôi phát hiện ra khái niệm thời gian đồng bộ và cách áp dụng nó tại nơi làm việc. Người Mỹ thường nhìn nhận thời gian theo cách tuần tự, trắng đen, cuộc sống và công việc. Khái niệm nhìn nhận thời gian khác nữa là: "Cách chúng ta quan sát thời gian trôi qua; có phải một chuỗi sự kiện xảy ra liên tiếp hay đồng thời. Quá khứ, hiện tại và tương lai có điều liên quan đến nhau?"

9. Trọng dụng nhân tài

Ít ai có thể ngờ rằng một người nhập cư Mỹ lại trở thành CEO của công ty nằm trong danh sách Fortune 500. Đây được cho là triết lý trong cách làm việc của Mỹ. Đơn giản mà nói, đó là câu chuyện khó tin và cũng là nguyên lý của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ được thị trường, nhà đầu tư, nhân viên luôn tin tưởng. Chính vị CEO này chấp nhận và khẳng định. "Tôi thấy vinh dự khi mình được trao nhiều cơ hội tốt và gặp nhiều may mắn đến như vậy," ông nói với nhóm nhân quyền phi lợi nhuận. "Thế nên giấc mơ Mỹ không phải chuyện trong cổ tích."

Thật vậy, và có lẽ các CEO Ấn Độ đã biến chúng thành hiện thực.

Nguồn: Kiến thức Kinh tế

Một cuốn sách rất nổi tiếng về Tư duy Lãnh đạo “#The_ten_golden_rules_of_leadership” đã tổng hợp và áp dụng tư duy vĩ đại từ các bậc thầy của mọi…

"Biết học hỏi từ chính những sai lầm của bản thân là một điều tốt. Nhưng còn tốt hơn nếu bạn biết học hỏi từ những thất bại của những người xung quanh”. Warren Buffett

"Thất bại dạy cho ta trở lên thông thái nhiều hơn thành công. Chúng ta quyết định những việc mình sẽ làm khi biết những điều mình sẽ không làm; những người không bao giờ mắc sai lầm sẽ chẳng bao giờ khám phá được những điều mới mẻ". Samuel Smiles, tác giả người Scotland.
Gần đây, sau khi viết một bài báo về việc bán lại khoản đầu tư trị giá 2 triệu USD, tôi đã nhận được rất nhiều bình luận và tin nhắn riêng. Vài tháng trước, khi viết về câu chuyện lần đầu khởi nghiệp cũng như một vài chiến lược thành công, tôi nhận được ít quan tâm hơn hẳn. Điều đó khiến tôi băn khoăn rằng giữa những câu chuyện về thất bại và những mẩu chuyện thành công, mọi người quan tâm điều gì hơn?
Warren Buffett đã từng nói: "Biết học hỏi từ chính những sai lầm của bản thân là một điều tốt. Nhưng còn tốt hơn nếu bạn biết rút ra kinh nghiệm từ những thất bại của những người xung quanh."
Chính vì vậy, tôi cho rằng 7 sai lầm trầm trọng mà các công ty lớn đã mắc phải sau đây rất đáng để suy ngẫm bởi chúng ta có thể học được nhiều bài học quý giá.
1. Sai lầm của Google hay Excite?
Vào năm 1999, khi mọi người lo lắng về sự cố Y2K phá hủy hệ thống máy tính toàn cầu cũng là thời điểm mà hai công cụ tìm kiếm Excite và Google chưa được biết đến rộng rãi. Larry Page (người thành lập Google) đã đề nghị bán công ty của mình cho Excite với giá 750.000 USD. Excite đã từ chối thỏa thuận sau khi chạy một số kết quả so sánh giữa Excite và Backrub (tên ban đầu của Google) và nhận thấy rằng công cụ tìm kiếm của Backrub quá nhanh.
Page giải thích: "Nếu Excite thỏa mãn người dùng bằng cách cung cấp cho họ thông tin cần thiết ngay tức khắc, thì người dùng sẽ rời khỏi trang web ngay. Nhưng nếu người dùng ở lại thì web mới có doanh thu từ quảng cáo - "độ dính" là chỉ số mà các trang web nhắm vào tại thời điểm đó do vậy việc sử dụng công nghệ của BackRub sẽ không đem lại nhiều lợi ích."
Kết quả là, năm 2004, Ask.Com mua lại Excite với 2% thị phần, trong khi Google có giá trị hơn một nghìn tỷ USD.
Bài học:
Thay vì đuổi theo các chỉ số mà các đối thủ cạnh tranh nhắm đến, hãy đáp ứng nhu cầu của khách hàng trước tiên.
2. Kodak và phát minh khiến chính họ bị bỏ lại phía sau
Thật nực cười khi một công ty cho ra đời một sản phẩm đột phá thị trường nhưng lại quyết định không đầu tư vào sản phẩm ấy. Kodak chính là một ví dụ cho sai lầm này.
Năm 1977, Kodak đã nộp bằng sáng chế cho một trong những chiếc máy ảnh kỹ thuật số đầu tiên. Nhưng bởi lợi nhuận đến từ máy ảnh phim quá lớn nên họ quyết định tập trung hoàn toàn vào phim và máy ảnh phim. Ngay cả khi thị trường chuyển sang kỹ thuật số, Kodak vẫn kiên định gắn bó với máy ảnh phim.
"Chụp ảnh mà không cần phim ư? Ban quản trị sau khi nghe ý tưởng đó đã thốt lên rằng: "Nghe hay ho đấy - nhưng đừng nói với ai nhé."” Steve Sasson, kỹ sư Kodak, người đã phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số thuật lại.
Cuối cùng, Kodak cũng nhận ra điều mà cả thế giới đã biết trong nhiều năm - tương lai của nhiếp ảnh thuộc về công nghệ kỹ thuật số. Tuy nhiên, họ vẫn tập trung đầu tư sai sản phẩm. Năm 1996, Kodak chi 500 triệu USD để phát triển và bán hệ thống máy ảnh và phim Advantix. Giống như một máy ảnh kỹ thuật số, Advantix cho phép người dùng xem trước ảnh chụp nhưng vẫn phụ thuộc rất nhiều vào phim để in ảnh.
Kodak không thể từ bỏ vị trí dẫn đầu trong thị trường ảnh phim nên đã gạt bỏ ý tưởng phát triển máy ảnh kỹ thuật số.
Tình hình kinh doanh không có dấu hiệu phục hồi, năm 2012, Kodak đã nộp đơn phá sản.
Bài học:
Hãy thích ứng với nhu cầu của thị trường và nghiên cứu các triển vọng dài hạn trong tương lai. Đừng như Kodak, hãy sẵn sàng cho tương lai trước khi quá muộn màng.
3. United làm vỡ cây đàn guitar và " trái tim" của các cổ đông
Năm 2008, trên chuyến bay giữa Halifax ở Canada và Omaha, United Airlines đã làm vỡ cây đàn trị giá 3.500 USD của nhạc sĩ Dave Carroll. Carroll đã rất buồn và mong mỏi một sự đền bù xứng đáng. Tuy nhiên, United, vốn kém tiếng về dịch vụ chăm sóc khách hàng của mình, đã đáp lại 9 tháng chờ đợi của nhạc sĩ Carroll bằng một lý lẽ rằng Carroll mất quá nhiều thời gian để gửi đơn khiếu nại. Họ còn viện ra nhiều lý do khác nhau để không phải nhận trách nhiệm. Điều này đã buộc nhạc sĩ Carroll sau đó phải thực hiện một sách lược chưa từng có.
Ông đã viết một bài hát có tên United Breaks Guitars và phát hành trên YouTube. Được phát hành vào ngày 6 tháng 7 năm 2009, bài hát với giai điệu hấp dẫn đã lan truyền nhanh chóng với 5 triệu lượt xem trong tháng đầu tiên. Sự kiện này đã khiến giá cổ phiếu của UAL giảm 10% - với tổng giá trị lên tới 180 triệu USD.
United Airline đã có thể đã tránh được thảm họa truyền thông và tài chính ấy nếu họ chịu đền bù một cây đàn trị giá 3500 USD
Bài học:
Lý do khiến Jeff Bezos bị ám ảnh bởi khách hàng là bởi họ nắm giữ sức mạnh kiến tạo hoặc phá vỡ một doanh nghiệp. Phương tiện truyền thông hiện nay cho phép tất cả khách hàng thể hiện sự bất mãn của mình đối với các thương hiệu. Và Carroll đã tận dụng tối đa sức mạnh ấy bằng cách viết một cuốn sách mang tên: United làm vỡ cây đàn: Sức mạnh của một tiếng nói trong kỷ nguyên của phương tiện truyền thông.

4. Một công ty có thể lụi tàn trong 10 giây như thế nào?
Gerald Ratner tiếp quản tập đoàn Ratners từ cha vào năm 1984. Trong vòng 6 năm, ông đã biến nó thành một doanh nghiệp với doanh thu hàng năm đạt 1,2 tỷ bảng Anh với hơn 2500 cửa hàng. Mặc dù không đạt chất lượng cao nhất trên thị trường nhưng các sản phẩm của ông vẫn hấp dẫn khách hàng. Công ty của ông đã thành công trong việc cung cấp các sản phẩm giá rẻ cho tầng lớp người lao động.
Khi tham gia phát biểu trước một hội nghị của Viện Giám đốc tại Hội trường Royal Albert vào ngày 23 tháng 4 năm 1991, có người đặt câu hỏi về việc vì sao công ty của ông có thể bán những sản phẩm rẻ tới vậy Ratner đã trả lời như sau:
"Mọi người thường hỏi tại sao chúng tôi có thể bán rẻ tới vậy. Đơn giản thôi, bởi vì tất cả sản phẩm đều là đồ đểu."
Ratner tiếp tục nói về những đôi bông tai mà công ty mình bán như sau:
"Thậm chí giá thành còn rẻ hơn cả một chiếc sandwich tôm của M&S và dĩ nhiên nó không thể bền."
Các phương tiện truyền thông lập tức tập trung vào phát ngôn này. Hậu quả là cổ phiếu công ty đã giảm 500 triệu bảng Anh trong vài ngày đẩy công ty tới bờ vực sụp đổ. Ratner ngay lập tức bị sa thải, và công ty cuối cùng đổi tên thành Signet Group.
Ratner đã để lại một hiện tượng trong thế giới kinh doanh - giờ đây, khi ám chỉ một công ty chao đảo vì những phát ngôn vạ miệng trước truyền thông, người ta gọi đó là "Hiệu ứng Ratner".
Bài học:
Hãy lắng nghe lời khuyên của những người hiểu rõ bạn. Sau thảm họa truyền thông, vợ Ratner chia sẻ: "Tôi hoàn toàn không ủng hộ Gerald phát biểu như vậy, nhưng anh ấy vẫn thích làm những điều mình muốn." Ratner đã hối hận vì không nghe lời khuyên của vợ và cố đưa những lời 'đùa cợt' ấy vào bài phát biểu của mình."
5. Phủ nhận phát minh điện thoại vì coi đó là một loại đồ chơi
Năm 1876 Western Union (một công ty dịch vụ tài chính và truyền thông toàn cầu của Mỹ) được tiếp thị bởi một thanh niên tên là Alexander Graham Bell. Ông đã đề nghị bán một bằng sáng chế cho một thiết bị mình tạo ra có thể truyền âm thanh của giọng nói thông qua dây dẫn. Hay còn gọi là điện thoại. Giá chào bán của Bell là 100.000 USD.
Vào thời điểm đó, Western Union là một tập đoàn khổng lồ với 7000 văn phòng điện báo trên khắp nước Mỹ và giá trị sổ sách là 55 triệu USD. Công ty thống trị thị trường truyền thông lúc bấy giờ. Có người đã thuật lại rằng, Chủ tịch của Western Union lúc ấy là William Horton, đã cười nhạo Bell rằng: "Đồ chơi điện tử này có công dụng gì đáng để công ty tôi khai thác chứ?"
Sau khi bị từ chối, Bell quyết định thành lập công ty điện thoại của riêng mình- Bell Telephone. Dù đó là một khoản đầu tư khá tốn kém nhưng Bell đã nhanh chóng chứng minh rằng phát minh của ông không phải là một món đồ chơi. Hai năm sau, Orton thừa nhận đã mắc sai lầm lớn, công nhận bằng sáng chế của Bell là một món hời trị giá 25 triệu USD. Sau đó, Orton đã thuê Thomas Edison để tinh chỉnh bằng sáng chế và đưa ra một phiên bản điện thoại khác. Bell đã đưa họ ra tòa và giành chiến thắng. Vì vậy Western Union không thể tham gia thị trường mới và mắc kẹt với điện báo.
Bell Telephone tiếp tục phát triển và sau đó đổi tên - thành AT&T.
Bài học:
Đừng mãi giữ nguyên hiện trạng. Khi công nghệ phát triển, sản phẩm cũng cần được nâng cấp.
6. Decca Records và lựa chọn sai lầm
Vào đầu năm 1962, bốn nhạc sĩ trẻ từ Liverpool đã thu âm 15 bài hát cho một buổi thử giọng. Họ đã giao bản ghi âm ấy cho Decca Records.
Người đứng đầu Decca, Dick Rowe, băn khoăn giữa các nghệ sĩ Liverpool và một ban nhạc địa phương Brian Poole và The Tremeloes.
Dick nhớ lại: "Cả hai đều xuất sắc, nhưng một bên là nhóm địa phương, bên còn lại đến từ Liverpool. Chúng tôi nghĩ rằng chọn nhóm địa phương sẽ có lợi hơn vì có thể dễ dàng làm việc và giữ liên lạc khi họ ở ngay Dagenham."
Rowe và Decca không hề biết rằng đã từ chối một ban nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại - The Beatles. Decca đã bỏ lỡ hàng trăm triệu USD khi từ chối ban nhạc ấy.
May mắn thay, câu chuyện này có một kết thúc có hậu. Năm 1963, khi người hâm mộ The Beatles càn quét khắp thế giới, George Harrison cảm thấy tiếc cho Decca nên đã đề nghị họ ký hợp đồng với một ban nhạc trẻ khác mà Harrison thấy triển vọng. Lần này Rowe đã không chọn một ban nhạc địa phương mà ký hợp đồng với một nhóm nhạc mà sau này nổi tiếng khắp thế giới với cái tên Rolling Stones.
Bài học:
Các quyết định không nên dựa vào vị trí địa lý, đặc biệt là trong nền kinh tế toàn cầu. Ngay cả khi không thể thực hiện được thỏa thuận với đối tác, hãy cố gắng duy trì các mối quan hệ với họ như cách Decca duy trì liên lạc với Harrison để có được hợp đồng với Rolling Stones.
7. Bạn cần trở thành một nhà khoa học tên lửa để chế tạo ra tên lửa
Bài viết này sẽ kết thúc với một ví dụ cho thấy rằng ngay cả những người thông minh nhất cũng có thể mắc những sai lầm ngớ ngẩn nhất.
Năm 1999, NASA đã đánh mất một tàu quỹ đạo sao Hỏa trong không gian do một lỗi toán học cơ bản. Các kỹ sư tại Lockheed Martin khi tính toán đã chế tạo tên lửa sử dụng hệ đơn vị Anh trong khi nhóm NASA sử dụng các phép đo hệ mét. Sự khác biệt này đã khiến cho tàu thăm dò bị trục trặc và đi chệch hướng sau đó mất luôn dấu vết. Sai lầm này đã ngốn 125 triệu USD cho chiếc tàu hiện chưa rõ nằm ở đâu trong không gian và có thể đang được sử dụng bởi người ngoài hành tinh.
Bài học:
Khi làm việc trong môi trường quốc tế, hãy đảm bảo việc giao tiếp được rõ ràng và cả nhóm cùng tuân theo một quy trình thống nhất.
Những công ty trên đã trả hàng triệu USD cho những bài học mà chúng ta đang đọc một cách miễn phí. Từ những thất bại của họ, tôi hy vọng chúng ta có thể sớm đến với thành công.


Nguồn: Mộc Dương, cafebiz.vn. Theo ENT

Chỉ số Môi trường Kinh doanh (BCI) mới nhất của EuroCham ghi nhận ở mức cao nhất kể từ thời điểm bùng phát đại dịch.

Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) vừa công bố kết quả BCI quý IV/2020 với kểt quả cao khi đạt 63,6 điểm, tăng 6 điểm so với quý liền trước. Tổng cộng, chỉ số này đã tăng 37 điểm kể từ năm ngoái, sau khi ghi nhận mức điểm thấp kỷ lục trong quý I/2020, với sự bùng phát lần đầu của Covid-19.

BCI là thước đo hàng quý, được sử dụng bởi các thành viên EuroCham để đánh giá về môi trường kinh doanh. Điều tra thực địa và thu thập dữ liệu cho BCI do YouGov Việt Nam thực hiện. Chỉ số trên 50 phản ánh tâm lý tích cực.

Diễn biến BCI từ năm 2010 đến 2020. Đồ họa: EuroCham.

Một phần ba thành viên EuroCham dự đoán số lượng nhân viên của họ sẽ tăng lên trong quý tiếp theo, và 57% sẽ duy trì mức tương tự. Trong khi đó, 30% người tham gia khảo sát dự đoán đầu tư sẽ phát triển và 43% dự đoán các đơn đặt hàng và doanh thu sẽ tăng trưởng.

Với việc EVFTA đã đi vào hiệu lực, 70% nói rằng doanh nghiệp của họ đã được hưởng lợi. Tuy nhiên, 33% cũng cho rằng "thủ tục hành chính" sẽ là thách thức chính để các doanh nghiệp tối ưu Hiệp định.

Chủ tịch EuroCham Nicolas Audier cho biết thông tin BCI mới nhất là một bức tranh tích cực về môi trường kinh doanh của Việt Nam và định hướng triển vọng năm 2021. "Niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào nền kinh tế ngày càng được củng cố trong một năm qua là minh chứng cho việc chính phủ Việt Nam xử lý thành công đại dịch và hợp tác xúc tiến EVFTA, tạo ra một nền tảng cho tăng trưởng kinh tế - xã hội 5 năm tới của Việt Nam", ông nhận định.

Theo ông Thue Quist Thomasen, Giám đốc điều hành YouGov Việt Nam, cho rằng, các doanh nghiệp châu Âu có niềm tin ngày càng tăng vào môi trường thương mại và đầu tư của Việt Nam, trái ngược với tình hình ở các nơi khác trên thế giới.

Cụ thể, khi được hỏi về triển vọng kinh tế Việt Nam trong quý I/2021, 57% thành viên EuroCham tham gia khảo sát dự đoán sự "ổn định và cải thiện" sẽ được duy trì. So với 39% trong quý III/2020, sự tự tin về triển vọng kinh tế tăng cao. "Dữ liệu của chúng tôi cho thấy sự tự tin về tiềm năng phát triển kinh tế Việt Nam đang có đà tăng trưởng trên diện rộng", ông Thue Quist Thomasen nhận xét.

Nguồn: vnexpress.net

Jeff Bezos xuất hiện xuyên suốt và khôn ngoan. Mark Zuckerberg được biết đến với tính cách nghiêm túc và sẵn sàng đổi mới bản thân. Steve Jobs…

Nếu cứ mãi xuất khẩu vào những thị trường dễ tính thì chúng ta lại tiếp tục nhập siêu… Đến bao giờ doanh nghiệp mới lớn và trưởng thành được?...

P3 auto x2 auto x2

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Ấu có hiệu lực từ ngày 1/8/2020

Đó là chia sẻ của bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế khi đưa ra những giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt được những cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do.

THÔNG TIN CẦN ĐÚNG VÀ TRÚNG

Khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, 45% doanh nghiệp đã từng có lô hàng không được hưởng lợi do không biết đến cam kết của Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Điều này một lần nữa cho thấy các nỗ lực phổ biến tuyên truyền về cơ hội và cam kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương còn cần phải thực hiện mạnh hơn, đi vào cụ thể, thực chất và theo mối quan tâm của từng nhóm doanh nghiệp.

Để doanh nghiệp tiếp nhận thông tin về các Hiệp định thương mại tự do trúng và đúng, bà Phạm Chi Lan cho rằng, chúng ta cần đưa ra những thông tin một cách đúng mực, tránh chuyện khi có cái mới thì ào ào đưa theo và quên đi cái cũ. Đơn cử như tháng 8 năm ngoái, tất cả đều nói về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu như là số một với Việt Nam, khiến mọi người quên Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.

Đến khi có Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực thì cổ động nhiều cho hiệp định này và cổ vũ đây là thị trường tương đối dễ tính, dễ hơn cho doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập. Trong khi chúng ta tham gia 2 hiệp định khó tính là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu với quyết tâm, khát vọng rất lớn để vươn lên nhằm tự thay đổi mình, nâng chuẩn, nâng cấp mình lên, nhưng lại đi khuyến khích làm với thị trường dễ tính.

"Dễ tính đến bao giờ nữa? Nếu cứ dễ tính mãi lại quay trở lại vị trí ban đầu, tiếp tục nhập siêu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN… Nếu cứ dễ tính mãi thế thì đến bao giờ chúng ta lớn, trưởng thành được."

Chúng ta cần xây dựng danh tiếng mới cho hàng hoá Việt Nam. Cần có chuẩn chung áp dụng cho cả thị trường trong nước và nước ngoài. 100 triệu người Việt Nam là một thị trường lớn ở trong nước. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào đây là vì thị trường rất lớn của Việt Nam.

Cứ nhìn tốc độ thâm nhập của các chuỗi phân phối bán lẻ của Thái Lan, Hàn Quốc mới thấy họ đánh giá thị trường nội địa Việt Nam lớn như thế nào. Còn nếu cứ để hàng Việt Nam ở chuẩn thấp và chỉ thích xuất khẩu sang những thị trường dễ tính thì Việt Nam muôn đời chỉ là nơi sản xuất hàng giá rẻ, chất lượng thấp kể cả cho người Việt Nam lẫn thị trường xuất khẩu.

Ngoài ra, bà Lan cho rằng, khi tuyên truyền về các thị trường có Hiệp định thương mại tự do, chúng ta hay nói về dung lượng thị trường của họ lớn. Tự hào tham gia vào một khu vực lớn nhất thế giới là Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực nhưng chúng ta cũng cần xem thực lực mình đáp ứng được bao nhiêu, thâm nhập được bao nhiêu. Đôi khi, một thị trường nhỏ nhưng lại có giá trị lớn hơn những thị trường lớn khác cộng lại với từng doanh nghiệp, từng ngành hàng.

Kể cả với xuất khẩu, chúng ta phải thấy được thành tích xuất khẩu đó thuộc về mình rất ít, doanh nghiệp Việt Nam hưởng lợi không nhiều. Nếu muốn trở thành cường quốc trong những năm tới, không thể dựa trên người nước ngoài hoàn toàn mà phải dựa trên chính bản thân mình.

"Vì thế cơ quan quản lý nhà nước cần thay đổi cách thông tin của mình. Chú trọng, nâng cao nội lực hơn nữa, như tăng cường năng lực sản xuất trong nước, coi trọng thị trường trong nước, coi trọng doanh nghiệp Việt", bà Lan lưu ý.

TẬN DỤNG CƠ HỘI ĐỂ VƯƠN LÊN

Theo bà Lan, sự "khấp khểnh" về môi trường kinh doanh trong nước, chậm được cải thiện vẫn đè lên các doanh nghiệp nội nhiều hơn là doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi doanh nghiệp nước ngoài, ngoài việc họ có công cụ pháp lý và những cam kết quốc tế mạnh mẽ của chính phủ Việt Nam thì họ còn có chính phủ, sứ quán, cộng đồng luật sư của họ bảo vệ họ. Còn doanh nghiệp Việt Nam vẫn "cô đơn".

Vị chuyên gia này cho rằng chúng ta đang trong cơ hội tuyệt vời để tham gia chuỗi cung ứng, hội nhập quốc tế. Covid làm thức tỉnh cả thế giới, bản thân Việt Nam khao khát từ lâu về phát triển công nghiệp hỗ trợ nhưng khi các đối tác bên ngoài chưa hưởng ứng nên mình không làm được.

Nhưng bây giờ, trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Nhật Bản khuyến khích các doanh nghiệp Nhật trở về Nhật hoặc đầu tư sang các nước khác. Australia và nhiều nước khác trong khu vực Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu cũng đang tìm kiếm cơ hội tương tự như vậy.

"Bây giờ là lúc mình có cầu về chuỗi cung ứng mới, nước ngoài họ có nguồn lực… đây là cơ hội tuyệt vời để Việt Nam tận dụng vượt lên

Một cơ hội nữa là công nghệ, sức ép ứng dụng của công nghệ chưa bao giờ lớn như bây giờ. Vì vậy, hỗ trợ của Nhà nước cần chuyển mạnh sang hỗ trợ hai khía cạnh này để tham gia chuỗi cung ứng mới, nâng cao vị thế, giá trị gia tăng của Việt Nam trong các sản phẩm. Đồng thời, nâng cao trình độ công nghệ trong đó trình độ quản trị, con người.

Để biến những cơ hội này thành hiện thực, theo bà Phạm Chi Lan, nhà nước cần thay đổi cách tiếp cận hỗ trợ. Nếu hỗ trợ theo cách cũ sẽ không phù hợp với thời cơ mới. Chúng ta cần có doanh nghiệp tầm trung lớn mạnh. Sự thiếu vắng doanh nghiệp tầm trung lâu nay là thiệt thòi quá lớn với Việt Nam. Vì công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi nhiều ở doanh nghiệp quy mô tầm trung. Chỉ những doanh nghiệp ấy mới kết nối được với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

VŨ KHUÊ

Theo VnEconomy

Page 1 of 20

Các khóa học đang diễn ra

Danh mục

 

LUONG3P-01

Capture copy

 

 

KPIBCS-600x400-2 copy

 

hientuongrangdong

nghiên cứu thị trường

Thống kê truy cập

 
:

Về chúng tôi

Sứ mệnh: Xây dựng Viện thành nơi hội tụ và tỏa sáng của tri thức, đảm bảo tốt điều kiện để các thành viên sáng tạo và phát triển, kiến tạo được các sản phẩm khoa học và giáo dục với hàm lượng giá trị gia tăng cao hướng tới thỏa mãn tối  đa nhu cầu thiết thực của khách hàng.

Giá trị cốt lõi: Sáng tạo, chuyên nghiệp, hiệu quả.

Slogan: Kiến tạo tri thức - Cộng hưởng giá trị!

FACEBOOK IEIT

Picture1